0901 268 889
SỐ 69, NGÕ 68, Đ. XUÂN THỦY, TP. HÀ NỘI

Những cỗ máy thay đổi lịch sử nhân loại

Những chiếc máy tính đầu tiên góp phần cho sự phát triển của toàn nhân loại.

Hiện nay, những chiếc máy tính để bàn, máy tính văn phòng được thiết kế nhỏ gọn, dễ dàng di chuyển, thuận tiện cho người sử dụng. Kết quả đó có được là nhờ sự cải tiến không ngừng, bắt đầu từ những “cỗ máy khổng lồ” chiếm cả căn phòng lớn.

  1. Z4 Computer

    z4-computer-1944

Đầu tiên phải kể đến Z4 Computer. Đây là chiếc máy tính điện tử thứ hai được bán ra thị trường trên thế giới. Nó được thiết kế năm 1944 bởi 1 kĩ sư người Đức, Konrad Zuse và công ty Zuse Apparatebau chế tạo. Z4 sử dụng khoảng 2500 rơ le. Tốc độ tính toán phép cộng trung bình là 400ms. Dung lượng lưu trữ khoảng 64 từ. Điện năng tiêu thụ cực đại là 4kW.

    2. Colossus Mark

may-tinh-colossus-mark-1

Colossus Mark là cỗ máy phục vụ cho chiến tranh. Quân đội Anh dùng Colossus Mark giải mã những thông điệp bị quân Đức mã hóa  trong chiến tranh thế giới thứ II. Công nghệ đèn điện tử chân không xuất hiện để thực hiện các phép tính. Đây là chiếc máy điện tử đơn giản đầu tiến trên thế giới có thể lập trình phục vụ mục đích của con người. Trong Thế chiến II, có khoảng 10 máy colossus được đưa vào sử dụng.

3. ENIAC – Chiếc máy tính đầu tiên có thể lập trình được những lệnh phức tạp

Chiếc máy tính đầu tiên

Tên đầy đủ là “Electronic Numerical Integrator And Computer”. ENIAC chính là cỗ máy để các nhà khoa học tính toán, chế tạo bom Hydrogen. Khi ra mắt lần đầu tiên năm 1946, ENIAC còn được gọi là “Bộ óc khổng lồ”. Được quảng bá là nhanh gấp 1000 lần so với các máy móc tính toán thời đó. Nhờ thế, ENIAC đã nhanh chóng được giới khoa học và tư bản công nghiệp quan tâm.

Trong Thế chiến II, chính phủ Mỹ đã hỗ trợ tài chính phát triển ENIAC. Chi phí ước tính khoảng 500.000 USD (xấp xỉ với 8 triệu USD bây giờ). Sau khoảng 10 năm, ENIAC đã chấm dứt hoạt động vào tối ngày 02/10/1955.

4. Whirlwind

may-tinh-Whirlwind-1951

Bắt đầu được phát triển từ đầu năm 1945 nhưng phải đến tháng 4 năm 1951, Whirlwind mới được công bố công khai. Là chiếc máy tính đầu tiên có thể hiển thị văn bản và hình ảnh. Whirlwind đồng thời là chiếc máy tính đầu tiên dùng “Core Memory” cho bộ nhớ RAM. Cách lưu trữ phổ biến cho đến tận thập niên 70. “Core memory” có thể lưu trữ dữ liệu nhị phân (binary data) qua những tấm nam châm dạng tròn được kết nối với nhau bằng mạng lưới dây điện.

Dự án phát triển Whirlwind đã mất ~3  triệu USD vào năm 1951. Lần đầu tiên, máy tính có thể tính phép cộng 2 số trong 49 ms và phép nhân trong 61 ms trước giao tiếp với “Core Memory”.

Sau giao tiếp với “Core Memory”, thời gian tính toán tương ứng là 8 ms và 25.5 ms. Không dừng lại đó, tốc độ này đã tăng gấp 2 trong phiên bản mới năm 1953.

5. UNIVAC I (UNIVersal Automatic Computer I)

may-tinh-UNIVAC-I-1951

Là chiếc máy tính đầu tiên được sản xuất tại Mỹ vì mục đích thương mại. Hai nhà phát minh ra ENIAC, J. Presper Eckert và John Mauchly,  đã chế tạo ra chiếc máy tính này. Công việc lắp ráp, thiết kế bắt đầu từ công ty của chính họ sở hữu “Eckert-Mauchly Computer Corporation”. Cỗ máy hoàn thành sau khi công ty được tập đoàn Remington Rand mua lại.

Với việc sử dụng tới 5200 đèn điện tử chân không, trọng lượng của UNIVAC I ~13 tấn. Cỗ máy tiêu thụ khoảng 125kW điện năng. UNIVAC I có khả năng tính 1905 phép tính trong 1 giây. Tuy nhiên, để chứa cỗ máy này, các nhà khoa học đã phải dùng một căn phòng rộng ~35,5 m2.

6. “Wolverhampton Instrument for Teaching Computing from Harwell” (WITCH)

may-tinh-witch-1951

Được xây dựng theo mẫu máy tính của Anh. Máy dùng 900 điện cực hình trụ nhỏ gọi là Dekatron. Máy có băng giấy lưu trữ tín hiệu ra vào, hoạt động dựa vào 1 hệ thống ống dẫn khí gas. “Mụ phù thủy” được dùng cho mục đích nghiên cứu năng lượng hạt nhân tại Harwell, Oxfordshire. Tuy nhiên, đến năm 1973, WITCH bị khai tử do kích thước quá khổ và nhiều bất tiện trong quá trình sử dụng.

7. BESK (Binary Electronic Sequence Calculator)

may-tinh-BESK-1953

Là chiếc máy tính đầu tiên được tạo ra ở Thụy Điển. Cỗ máy này được lắp ráp năm 1963 và dừng hoạt động năm 1966. Được chế tạo và phát minh bởi Matematikmaskinnämnden, BESK được lắp đặt 2400 đèn điện tử chân không và 400 đi-ốt. Được coi là chiếc máy tính nhanh nhất thế giới một thời. BESK là máy vi tính 40-bit. Nó có khả năng thực hiện phép tính cộng  trong 56 ms và phép nhân trong 350 ms. Bộ nhớ lưu trữ được ~512 từ.

8. IBM 702

may-tinh-IBM-702-1955

Đây là đòn đáp trả của IBM cho UNIVAC. Đây là chiếc máy tính đầu tiên sử dụng công nghệ băng từ. Tuy nhiên, khả năng tính toán, phân tích kém hơn IBM 701 và  ERA 1103 (sử dụng nhiều trong khoa học). Vì vậy, IBM 702 hướng tới đối tượng doanh nghiệp. Hệ thống máy gồm bộ lưu trữ điện tử 14, 28, 42, 56, hoặc 70 ống “Williams” với bộ nhớ 1000 bits mỗi ống cho dung lượng  chính. Cần đến ~10 thành phần khác nhau hoàn chỉnh hệ thống này.

Thẻ:,